Contact information

Theodore Lowe, Ap #867-859 Sit Rd, Azusa New York

We are available 24/ 7. Call Now.

Bảo tàng Ô tô Toyota tại Nhật Bản trưng bày chủng loại ôtô đa dạng và đặc biệt là không chỉ có riêng xe của Toyota.

Bảo tàng Ô tô Toyota được thành lập vào năm 1989 nhằm kỷ niệm 50 năm thành lập hãng.

Chủ đề chính của Bảo tàng là giới thiệu lịch sử 100 năm từ khi ra đời xe ô tô chạy bằng xăng, nên không chỉ có xe của Toyota mà xen kẽ còn có xe của các thương hiệu khác. Bảo tàng trưng bày tổng cộng gần 150 chiếc xe.

Bảo tàng mở cửa hàng ngày từ 9h30 tới 17h, trừ một số ngày lễ nhất định. Phí vào cửa từ là 400-1.000 Yên (85.000 – 115.000 đồng), tùy độ tuổi. Bảo tàng có bản hướng dẫn miễn phí bằng tiếng Anh cho các tour tham quan tự túc.

Dưới đây là một số mẫu xe nổi bật tại Bảo tàng Ô tô Toyota:

Toyoda AA (1936)

Đây là mẫu xe chở khách đầu tiên đánh dấu bắt đầu kỷ nguyên của Toyota – hãng xe hãng đầu Nhật Bản. Toyoda Model AA được ra đời vào năm 1936 tại bộ phận sản xuất ôtô của Toyoda Automatic Loom Works, mang tên nhà sáng lập Kiichiro Toyoda (1894-1952).

Được thiết kế dựa trên những chiếc xe Mỹ thời đó và có nét tương đồng với kiểu dáng khí động học của chiếc xe DeSoto Airflow, mẫu AA có động cơ 6 xi-lanh thẳng hàng OHV (trục cam đặt bên trong thân máy), dung tích 3.4L. Chiếc xe trưng bày tại Bảo tàng này là bản sao, bởi bản gốc thời trước chiến tranh thế giới duy nhất tồn tại cho đến ngày nay hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Louwman ở Hà Lan.

Panhard et Levassor Type B2 (1899)

Cho đến năm 1894, việc ứng dụng cần lái thuyền để điều khiển xe ô tô ngày càng trở nên không hiệu quả. Lấy cảm hứng từ ngành hàng hải, các nhà chế tạo đã thay thế các cần lái bằng các tay lái có dạng hình tròn như tay lái thuyền nhưng nhỏ hơn. Vô lăng xe ô tô ra đời từ đó. Được thiết kế nhỏ và đơn giản hơn nguyên mẫu trên tàu thuyền, vô lăng xe hơi đặt dấu ấn trong cuộc đua Paris – Rouen khi tay đua Alfred Vacheron điều khiển mẫu xe Panhard sử dụng vô lăng về đích đầu tiên.

Tới năm 1898, mẫu xe Panhard et Levassor ra đời với vô lăng là một trong những trang thiết bị tiêu chuẩn. Đây cũng là chiếc xe có động cơ đặt phía trước và hệ dẫn động cầu sau đầu tiên trên thế giới.

Stanley Steamer E2 (1909)

Chiếc xe nổi tiếng này của hãng Stanley có ưu điểm là tiếng ồn nhỏ và dễ điều khiển. Một trong những chiếc xe của hãng đã đạt kỷ lúc tốc độ 204 km/h vào năm 1906, tuy nhiên những chiếc xe chạy bằng hơi nước đã sớm phải nhường chỗ cho xe động cơ đốt trong. Hãng Stanley đã phá sản vào năm 1924.

Cadillac Model 30 (1912)

Đây là chiếc xe có động cơ khởi động điện hiệu quả và đèn pha điện theo tiêu chuẩn. Hệ thống điện do Delco cung cấp tạo ra nguồn 24V để khởi động và 6V cho đèn pha.

Hispano-Suiza 32CV H6b (1928)

Nhà sản xuất Hispano-Suiza của Pháp được biết đến với những mẫu xe ô tô sang trọng và 32CV H6b phiên bản 1928 được coi là một trong những mẫu xe tốt nhất trên thế giới, nhờ vào hệ thống servo trợ lực thắng 4 bánh (có nguồn gốc từ công nghệ máy bay).

Bugatti Type 35B (1927)

Type 35 được vinh danh là một trong những xe đua xuất sắc nhất mọi thời đại.

Lancia Astura (1936)

Chiếc xe tuyệt đẹp này ghi dấu ấn của nhà thiết kế xe hơi số một của Ý Pininfarina và được trình làng tại Triển lãm Paris motor show 1931, thay thế mẫu xe Lambda.

Được trang bị động cơ xăng V8 OHC, dung tích 2972 cc, đây là một trong những trước xe Lancias trước chiến tranh đáng mơ ước nhất, giành được những danh hiệu hàng đầu tại cả giải đua Pebble Beach và Villa D’Este Concours.

Packard Twelve (1939)

Packard Twelve là một trong số những chiếc xe hạng sang của Tổng thống thứ 32 Hoa Kỳ Franklin D Roosevelt với ưu điểm vừa thanh lịch vừa mạnh mẽ nhờ động cơ V12. Xe của Tổng thống Roosevelt trang bị kính chống đạn, và là xe chống đạn đầu tiên dành cho Tổng thống.

Cisitalia 202 (1947)

Với kiểu dáng mượt mà và được tối ưu khí động học, Cisitalia 202 được coi là một cuộc cách mạng trong thiết kế xe ô tô.

Subaru 360 (1958)

Đây được xem là 1 trong 10 huyền thoại xe cổ làm nên lịch sử ô tô Nhật Bản. Subaru 360 được sản xuất năm 1958 bởi Fuji Heavy Industries (FHI), công ty mẹ của Subaru. Tại Nhật Bản, mẫu xe hai cửa tí hon này có tên “kei” sử dụng động cơ 2 xi-lanh, 2 kỳ, dung tích 356 phân khối, công suất 16 mã lực, hộp số sàn 3 cấp, hệ thống phanh cơ học và có thể chở được 4 người.

Toyota Corolla (1966)

Trải qua 50 năm với 12 thế hệ và hơn 44 triệu xe được bán ra trên toàn cầu, Corolla đã trở thành một trong những mẫu xe thành công nhất của tập đoàn Toyota.

Toyota 2000GT (1966)

Là một trong những mẫu xe khẳng định vị thế của Nhật Bản trên bản đồ ô tô thế giới. 2000GT là một mẫu fastback hiệu suất cao với kiểu dáng đẹp đã chứng minh cho cả thế giới rằng các nhà sản xuất ôtô Nhật Bản thực sự có thể chế tác những mẫu xe xứng tầm với các thương hiệu từ châu Âu.

Toyota Mirai (2014)

Toyota Mirai thế hệ đầu tiên ra mắt thị trường vào năm 2014, chứng minh tiềm năng toàn cầu của khí hydro trong việc cung cấp năng lượng sạch và bền vững cho chuyển động, kết hợp quãng đường lái xe với thời gian nạp nhiên liệu tương đương với phương tiện truyền thống và chất thải không có gì ngoài nước.

Toyota Century (2018)

Phiên bản Century là mẫu xe hạng sang được Toyota ưu ái dành riêng cho thị trường nội địa. Toyota Century 2018 sử dụng động cơ V8 dung tích 5.0L, (2UR-FSE) kết hợp với động cơ điện để tạo ra hệ truyền động Hybrid – Toyota Hybrid System 2, cho công suất tối đa 375 mã lực tại vòng tua máy 6.200 vòng/phút và mô-men xoắn cực đại 510Nm tại 4.000 vòng/phút. Đây là dòng xe hiện được lựa chọn làm phương tiện di chuyển của Nhật hoàng.

Nguồn Autocar

Share:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *